Donovan mỉm cười :
Lúc ấy đâu còn là hắn ta nữa. Mà Cha lúc ấy cũng không phải là Cha, vì bệnh như thế thì còn biết gì ! Con xin bảo đảm với Cha Stevie Figgons chỉ có một tên và anh ta cũng chẳng phải là dân lai đâu !
Tôi ngồi yên lặng một lúc, cố tập trung tư tưởng. Cuối cùng tôi nói :
Anh có biết gì về vợ của anh ta không ?
Donovan trả lời :
Con cũng có biết. Hai người thường đánh nhau như chó với mèo cách đây hai mươi năm, khi anh ta còn giữ chức quản lý trại chăn nuôi Wonamboola. Có lẽ cũng vì rượu mà mất việc. Chị ta bỏ chồng từ đấy và sau này bị xe tải cán chết ở Sydney. Có lẽ vào năm 1950 hay muộn hơn một chút.
Tôi hỏi :
Thế họ không sống ở Canberra à ?
Anh ta cười :
Canberra ? Có bao giờ họ đến đó đâu ! Họ không phải là loại người ấy đâu, thưa Cha.
Thế họ có con cái gì không ?
Con không nghe nói đến. Cho dầu có đi nữa, thì họ cũng chẳng trình diện bao giờ. Còn bà con, thì như con biết, chẳng có ai. Điều đó không quan trọng, vì anh ta chẳng để lại gì !
Sau đó Trung sĩ Donovan bỏ đi ngay, còn tôi ở lại một mình cố gắng hòa hợp những gì anh ta nói và ký ức của tôi. Tôi nhận ra rằng, tốt hơn tôi nên bám vào chiếc neo sự thật. Trung sĩ Donovan là một thanh niên có năng lực và điềm đạm, và tôi phải chấp nhận những điều anh ta nói về Stevie là đúng sự thật. Tuy nhiên, nó phù hợp với kinh nghiệm bản thân tôi đối với Stevie cho đến cái đêm trước khi ông ta chết ở Dorset Downs. Và riêng đêm hôm đó, tôi phải công nhận, gần suốt đêm tôi bị sốt quá cao.
Tôi định đưa vấn đề ấy, khi gặp Xơ Finlay lâu hơn, thì tối hôm đó Xơ lại mang cho tôi một tách cà phê. Tôi hỏi :
Xơ này, tôi muốn hỏi Xơ một việc. Xơ có nghe câu chuyện dài của tôi và Stevie trước khi ông ấy chết không ?
Xơ nhìn tôi lạ lùng :
Câu chuyện nào ? Con có nghe câu chuyện nào đâu !
Tôi nói :
Sau khi tắt đèn để tiết kiệm pin. Tôi hỏi anh ta về bà con thân thuộc và anh ta bắt đầu kể cho tôi nghe … vô số chuyện.
Xơ lắc đầu :
Ông ấy có nói gì đâu. Con chắc chắn thế, thưa Cha.
Không nói gì hết sao ?
Không nói gì. Cha ngồi đấy và cầm tay ông ta, nhưng cả hai người không ai nói lời nào !
Xơ có chắc như vậy không ?
Xơ vừa cười nói :
Con chắc mà ! Con lo cho Cha nhiều hơn là lo cho ông Stevie, vì ông ta trước sau gì cũng sẽ chết. Và lúc đó Cha đi ngủ, và con không đánh thức Cha dậy vì nghĩ rằng, Cha ngủ được là tốt rồi ! Cha đã ngủ suốt đêm.
Thật là kỳ quặc, vì chính mắt tôi thấy Xơ ngủ.
Xơ có chắc là Xơ không ngủ chứ ?
Xơ phản đối nói :
Thưa Cha, con không bao giờ ngủ khi có một ca bệnh ban đêm như thế và con chưa bao giờ làm sai.
Tôi nói :
Cha xin lỗi. Cha không thể bịa đặt một câu chuyện như thế, vì Cha nghĩ là anh ta đã kể cho Cha nghe cả câu chuyện dài về đời tư của anh ta.
Xơ nói :
Lúc ấy, Cha đang bị bệnh nặng. Nếu con là Cha, con sẽ quên tất cả. Có thể con đã ngủ gật một hai lần, nhưng con vẫn thức và cứ nửa giờ con đi quanh một vòng, để canh chừng cho Cha và đám súc vật khốn khổ ấy. Ông Liên Chi và con đã cho ông Stevie hai điếu nữa vào lúc hai giờ sáng, ngay trước mặt Cha nhưng Cha đâu có thức giấc.
Dầu sao, cũng phải hỏi câu cuối :
Bầy súc vật vẫn ở đấy sao ?
Dạ vâng. Chúng vẫn ở đấy. Ông Liên Chi trước đây đã thấy chúng làm như thế khi chúng bị mắc cạn trên một nổng đất dưới trời mưa.
Làm gì ?
Đứng nhìn vào nhà. Điều đó có chi mà thắc mắc, chỉ cần cây súng là đuổi chúng đi ngay. Con chẳng ưa gì bọn dã thú nhiều như thế.
Tôi giữ im lặng. Một lúc sau Xơ nói :
Bất cứ điều gì, Cha nghĩ là ông ta nói với Cha, con đều quên hết. Người ta thường nghĩ ra những điều kỳ quái khi bị sốt cao và chẳng nghĩa lý gì cả. Một phần vì điều kiện lâm sàng, một phần vì bệnh lý mà làm cho người bệnh có ảo giác. Khi một cậu bé bị bệnh, đôi khi không thể không ảnh hưởng đến tâm thần, chút ít thôi và khi cậu bé lành bệnh, tâm thần cũng hồi phục và nhanh hơn nhiều.
Cha hiểu rồi, Xơ ạ ! Đấy chỉ là một kinh nghiệm kỳ lạ, và Cha hy vọng chẳng còn như thế đâu !
Xơ nói :
Con chắc như thế ! Thấy cha bình phục nhanh chóng, chúng con định để Cha về tuần tới.
Mặc cho những lời phản đối của tôi, Xơ đã bắt tôi ở trên giường đến năm sáu ngày, nằm một mình tôi suy nghĩ, có lẽ Xơ biết tôi muốn trở về tòa cha sở ngay khi tôi khỏi bệnh. Cuối cùng, tôi cũng đã về được đấy và nhận ra người ta đã thay đổi bộ mặt của tòa cha sở. Phòng tôi ở, các cửa kiếng đã thay mới và tường thì được quét vôi màu mới, khung giường, ghế ngồi cũng hoàn toàn mới và một bếp dầu, nấu lên hơi ấm tỏa ra cả phòng. Dân chúng đã ưu ái dành cho tôi, sáng kiến của họ và tôi phải nói rằng tôi rất được họ nể trọng.
Hai tháng tiếp theo, tôi đã sống trong tiện nghi và lười biếng. Thường thường vào tháng trước khi các loại xe có động cơ trở lại hoạt động bình thường ở Gulf Country, thay vì cởi ngựa đi khắp miền, trong mùa mưa, như thời trai trẻ, tôi đã ngồi một chỗ để viết những chuyên mục cho tờ tạp chí của giáo khu, để có thể phát hành hàng tháng, qua đến mùa nắng, mà không mất thời gian nhiều vì đó là lúc chờ đợi cho con đường khô ráo trở lại để lưu thông.
Dĩ nhiên, vào mùa mưa những bộ mặt lạ lẫm cũng ít xuất hiện ở Landsborough. Nhưng một ngày cuối tháng hai hay đầu tháng ba gì đó, một chiếc máy bay lạ bay đến và hạ cánh xuống phi trường, hoàn toàn bất ngờ. Thì ra đó là một chiếc Dakota của Sở Hàng không dân dụng, cho Sở Công chánh và Địa ốc mượn có thời hạn. Hành khách và phi hành đoàn đã đến nghỉ qua đêm tại Khách sạn Bưu điện. Tôi đã gặp họ ở đấy khi tôi đến uống trà.
Thì ra họ là một nhóm chuyên viên đo đạc và kiến trúc sư từ cơ quan chỉ huy là Sở Công chánh ở Canberra. Trên đường đi, họ đã ở lại Brisbane hai ngày và bay thẳng từ đấy đến Landsborough. Tự nhiên ai cũng muốn biết họ đến đây làm gì và họ là những người thẳng thắn, thành thật nói về công tác của họ. Họ đến để tái lập phi trường ở Invergarry.
Tôi ngồi một bàn với người đàn ông, hình như trưởng toán, tóc hoa râm, trạc năm mươi lăm tuổi, ông Hutchinson. Ông ta nói :
Chẳng có gì bí mật cả, báo chí đã nói nhiều, nhưng ở đây bà con chưa nghe nói đến. Đây là sự tiếp tục phát huy Không lực Hoàng gia Úc. Chúng tôi mở lại một số phi trường trong thời chiến ngày xưa và biến chúng thành nơi thích hợp cho những phi đội đặt căn cứ thường trực. Đây là chương trình lớn, có nghĩa là những tòa nhà và nhà chứa máy bay kiên cố. Cũng phải mất năm năm mới làm xong, có thể lâu hơn. Lấy Invergarry làm thí điểm, nơi mà chúng tôi sẽ đến thăm ngày mai. Tôi biết chẳng còn gì ở đấy cả.