XI
Bước vào mối tình với gã con trai tên Thưởng, Loan rực rỡ như một bông hồng buổi sớm. Ngõ 401 như được trang điểm. Và cái ngõ buồn tênh khởi sắc được phần nữa cũng là nhờ ông thợ vẽ Hảo.
Ông Hảo không bôi màu cho cái ngõ. Ông thợ vẽ tôn trọng khía cạnh tục luỵ của con người phổ biến, con người tầm thường, làm cái ngõ rạng rỡ lên bằng những vải vóc, len dạ, ni-lông ông phơi ở cái sân nhỏ bé, bẩn thỉu. Những tấm tơ lụa, những áo choàng lông thú, những áo mút, chăn len, từ nước ngoài gửi về, khoe màu sặc sỡ, biến đổi cả khung cảnh nhàm chán, tẻ nhạt thường ngày. Ông Hảo là một kẻ trúng số độc đắc, đúng như tiên tri của ông thầy tử vi nọ. Bà vợ ông, một người đàn bà gốc đạo, tính khí thất thường, lúc trẻ thả mình theo những mối tình trăng gió, năm 1954 bỏ ông, di cư vào Nam, bây giờ mở một cửa hàng đồ gốm cỡ trung bình ở một thị trấn nhỏ ngoại vi Pa-ri, vào tuổi năm mươi, hồi xuân, bà bỗng nhớ lại tuổi trẻ và mối tình si đầu đời, nhớ tới ông chồng nghệ sĩ nửa mùa và động lòng trắc ẩn. Qua thư từ, bà tìm được ông. Họ lại thương nhau, sau khi đã trải qua đoạn trường mấy chục năm và vì cùng nhất trí rằng con người ta vốn là động vật, có nhiều cái thấp hèn, dung tục lắm nên lầm lẫn là tất nhiên, là dễ hiểu, vì vậy bây giờ có thể hoàn toàn thông cảm, tha thứ cho nhau, không tính đến quá khứ nữa, chỉ chấp nhận hiện tại thôi. Bà gửi tình thương muộn mằm cho ông qua những bức thư dài. Bà thể hiện nỗi ân hận chậm trễ của mình bằng những đồ hàng. Ôi chao, đất nước có bao nhiêu biến động, những mối tình cũng éo le, ly kỳ và mãnh liệt làm sao!
Ông thợ vẽ cởi bỏ hẳn vẻ bình dị, chút cao quý hình thức cuối cùng, của nhà nghệ sĩ, trong cách ăn mặc. Giờ, ông ăn mặc cho đúng với tư cách con người như ông thường nói. Vị nguyên thủ của một quốc gia đông hàng tỉ tế bào là ông một khi đã bỏ công chăm sóc đến từng tế bào một, thì lâu la gì mà cơ thể ông chẳng được nhuận sắc. Ông đẫy ngay ra. Vai nổi u, bụng xề xệ, mặt hum húp. Ông hoạt bát hơn, nhưng cũng phóng túng, phong tình hơn. Tất nhiên, ông bỏ nghề đẽo guốc, việc vẽ tranh thánh và các nghề linh tinh kiếm sống khác.
Một buổi sáng, bà Nhuần nghỉ chợ, tay chống nạnh, ngón tay vàng choé cái nhẫn ba đồng cân Thưởng tặng, đứng ở sân, nhìn thấy ông Hảo bảnh bao trong bộ com lê, đội chiếc mũ phớt mới, như sắp đi đâu, liền vuốt mép, kéo dài giọng, mát mẻ:
- Bây giờ chỉ có bác Hảo là sướng nhất thành phố này thôi!
- Sướng gì cái thằng tôi, bà ơi! - Ông thợ vẽ bỏ cái mũ phớt, gãi gãi mái đầu hoa râm, lia mắt về phía góc sân, chớt nhả - Sướng nhất ấy à... phải là... cô Loan. Tuổi trẻ này, ham muốn này, sắc đẹp này.
- Mài cái đẹp mà ăn được đấy – Bà Nhuần thưỡi cái môi dưới – Không như ma vật thì có cái hốc xịt mà bỏ vào nồi, bác ơi! Gớm, nghe thư bác gái ở bên Ba-di viết về mà chóng cả mặt. Nước người ta sung sướng như thiên đường thế chứ. Mình có loại... vét đĩa. Bác gái mỗi tháng gửi cho bác một lạng vàng thì bác tiêu sao cho hết. A, bác Hảo này, vàng lên mười tám rồi đấy!
- Tôi chả thiết vàng. Tôi xin đổi vàng lấy... cô Loan đấy.
- Thì tôi đổi nó cho bác đấy!
- Hé hé... cô Loan đồng ý không?
Loan đang kì cạch đóng guốc ở góc sân, ngẩng lên cười nhoe nhoẻn:
- Đồng ý cả hai tay!
- Thật chứ?
- Nghiêm chỉnh!
- Hé hé... Hết xảy!
Bà Nhuần cười nắc nẻ:
- Bọn con gái bây giờ ối đứa chỉ thích lấy chồng già, bác Hảo ạ. Các mẹ trẻ khôn, muốn được nâng niu, chiều chuộng mà.
Ông thợ vẽ đong đưa con mắt lẳng lơ, nửa nạc nửa mỡ, dở đùa dở thật, ông cứ tung ra những câu đùa sàm sỡ và xoi xói con mắt hai mí dầy cộm, đầy nhục thể về phía cô gái, vào cái cổ áo trễ tràng lấp ló hai bầu vú mọng của cô.
Ông Nhuần đánh xong bộ ấm chén, từ bờ giếng, lũn chũn bước về. Trong bếp, bà cụ già vừa chẻ củi vừa làu bàu cái gì. Ông Nhuần cau mặt lườm bà vợ:
- Còn đứng đấy lải nhải cái gì! Không sửa soạn để mời các bác ấy lên à.
Nghe trong giọng nói, hình như ông có điều gì ấm ức với bà vợ.
Ở bộ xa lông gỗ lát ngồi ba người đàn ông. Ông Nhuần khoác cái áo vét ka ki rộng thùng thình. Ông thợ vẽ diện bộ com-lê mới màu da chuột. Giản dị, mực thước, ông giáo Cần mặc áo đại cán màu xanh rêu. Không khí có một vẻ trịnh trọng khác thường. Bàn thờ tổ tiên ngan ngát khói hương. Bà cụ thân sinh ông Nhuần lọ mọ bổ cau trên bộ phản kê ở giữa nhà. Dưới bếp, bà Nhuần đang sào mực.
- Mời bác.
Ông Hảo chìa bao ba số về phía ông giáo Cần. Ông Cần tay sờ cổ, tay xua xua, mặt hắt héo buồn buồn:
- Cám ơn bác. Cho tôi xin phép. Mấy hôm nay tôi bị viêm họng ho nhiều.
- Hôm qua có gì mà bác to tiếng với tay chuyên gia ấy thế?
- Tôi giảng cho nó nghe chuyện Sơn Tinh- Thuỷ Tinh, chuyện Phù Đổng Thiên Vương. Nó cứ bắt bẻ lý sự cùn, lại còn cả gan nói dân tộc mình không thể đẻ ra được những áng văn thơ lãng mạn tuyệt vời như thế được.
Bà Nhuần bưng đĩa thịt xào từ bếp lên đặt xuống bàn, chen ngang vào câu chuyện:
- Cái ông vẫn đi chiếc xe máy lùn tì đến học bác ấy à? Trông người Tây họ đẹp nhỉ? Mình đứng cạnh họ thật cứ như anh ốm đói!
Ông Nhuần kéo hai ống tay áo vét, nhấc chai rượu Lúa mới, phồng mồm:
- Ốm đói! ốm đói mà vật Tây ngã chổng kềnh ra đấy.
- Có mà vật chai rượu!
- Hà hà...
Ông Hảo búng tàn thuốc:
- Muốn nói gì thì nói, ừ thì họ là tư bản, là đế quốc thực dân mới, vân vân và vân vân, đời sống họ vẫn cứ là cao hơn mình. Mà... anh Cần ạ. Chủ nghĩa tư bản giờ nó khác trước lắm, không như hồi anh du học ở bên Pa-ri, càng không như thời ông Các Mác, ông Lê-nin đâu.
- Thì nó vẫn là chủ nghĩa tư bản! - Ông Cần đáp thản nhiên.
- Đã đành! - Ông thợ vẽ ngúc ngoắc cổ – Nhưng mà mình phải và thực sự cầu thị khi đánh giá nó chứ.
Bà Nhuần xoa xoa hai tay:
- Em thì chả biết chủ nghĩa chủ nghiếc gì cả. Em chỉ là phó thường dân. Chỉ muốn ngày ba bữa thẳng cẳng, muốn ăn gì có nấy, muốn mặc gì có nấy. Tối nằm nghe cải lương Lan và Điệp là hết ý.
Ông Nhuần nhăn mặt, lườm vợ:
- Nói thế mà cũng đòi nói. Ăn sung mặc sướng mà làm thằng nô lệ có được không? Ngày xưa ấy các bác ạ, nói trộm Chính phủ, chứ tiếng là xích lô mà tôi sung túc hơn bây giờ. Nhưng ấy là nói về cái sự vật chất thôi. Còn như cái mặt tinh thần, hừ, kéo cái xe, thằng Tây nó ngồi trên, nó đập chân xuống sàn, giục: “A-lê-vít!”, ức không chịu được! Nay, ăn no mặc ấm, nhà cửa đang hoàng, con cái không lo trở thành ma cô ** điếm, thế là nhờ có xã hội chủ nghĩa chứ! Nhân câu chuyện cũng muốn nói để hai bác thông cảm. Hai vợ chồng tôi hồi này cứ lục đục suốt. Có gì đâu. Tôi là tôi quyết xin vào làm hợp đồng cho Quốc doanh Phát hành sách thành phố. Họ mới thành lập đoàn vận tải mà. Bà ấy lại không nghe. Đồng tiền mà làm gì, hả hai bác? Có nhiều ăn nhiều. Có ít ăn ít. Cái quý là ở tiếng thơm phục vụ xã hội chứ, có phải không, hai bác?
Ông Hảo cười nửa miệng:
- Bác Nhuần giai xem chừng giản đơn hơn bác Nhuần gái nhiều.
Như được thể, tuy chẳng hiểu rõ ý tứ ông thợ vẽ, bà Nhuần nguýt chồng một cái rõ dài:
- Chỉ được cái nói ngang là không ai bằng. Đang chuyện nọ lại xọ chuyện kia. Nào ai người ta chê trách chế độ? Người ta nói là so mình với các nước Tây ấy chứ. Chậc! Chung quy cái anh ngu thì cứ là khổ!
Câu cuối cùng rõ ràng bà Nhuần dành để đay nghiến chồng.
- Hà hà...
Ông Nhuần cười dàn hoà. Chính ông cũng hay tắc tị khi tranh luận với bà. Dẫu sao ông cũng ngay thật, giản dị, không tinh quái, lắm khát khao và lý sự như bà. Vả lại, bây giờ đâu có phải là lúc tranh cãi. Ông ngả chai rót đầy bốn chén rượu, trân trọng nâng lên, đặt từng chén trước mặt hai ông khách. Rồi ông so đũa, đặt xuống bên cạnh chén rượu và xoa xoa hai tay:
- Để mời các bác xơi chén rượu ạ.
- Lấy cho mẹ ít rau thơm, Loan ơi – Bà Nhuần nhổm lên, véo von vào cái bếp, rồi quay lại ngỏn nghoẻn – Dạ, để mời hai bác...
Loan bưng đĩa rau thơm vào buồng, mặt ưng ửng đỏ vì hơi than lửa. Liếc cô gái bằng con mắt đa tình, ông thợ vẽ hít hà, thích thú:
- Có chuyện gì mà ông bà chiêu đãi chúng tôi sang thế này!
- Có gì đâu mà gọi là đãi, hả bác! – Bà Nhuần đứng dậy, như sực nhớ điều gì - Rượu, mực đều là của anh Thưởng cháu cả. Kìa, bố nó có ý kiến với các bác đi.
Tợp một hợp rượu, mặt ông Nhuần đã đỏ gắt. Ông mắc cái tật: hễ cứ rượu vào là mắt díp. Ông lại không có khẩu khiếu. Bây giờ ông cứ gập mặt xuống chén rượu, lý nhí:
- Dạ dạ, chẳng nói giấu gì hai bác. Hai bác ở đây cũng như người nhà... Con gái lớn... là... con người ta...
Cúi xuống ông Cần nhấc chén rượu. Chén rượu nặng quá và ngực ông bỗng sụt hẫng một nhịp. Thôi, thế là ông hiểu hết đầu đuôi câu chuyện rồi.
Bà Nhuần từ ngoài cửa đi vào, ngồi xuống ghế, mau mắn:
- Dạ, bố cháu đã có ý kiến với hai bác, em cũng xin có ý kiến thêm ạ. Cháu Loan nó cũng nhận xét anh Thưởng cháu là con người tử tế. Nói để hai bác mừng cho cháu. Anh ấy ăn nói đĩnh đạc, đàng hoàng lắm kia. Cháu Loan nó cũng đã về tận nhà anh ấy xem. Bà cô tám mươi mà phúc hậu lắm. Răng chưa rụng cái nào. Của chìm của nổi thì nói làm gì. Cốt nhất là cháu được gửi vào nơi có nhân đức, hai bác ạ.
“Trọng, con ơi!”. Hiểu Trọng, và cũng đã nhận ra mối tình của con trai và cô gái hàng xóm này là hết sức mong manh từ lâu rồi, vậy mà lúc này, ông Cần vẫn nấc thầm một tiếng than đau đớn. Ông vội nhấp một hớp rượu. Mắt ông nhoà nhoà. Ông thấy ông thợ vẽ cười cợt, mắt nhấp nháy, nghiêng ngả. Ông nhạn ra mặt ông Nhuần đờ đẫn, như kẻ ngoài cuộc. Ông biết, trong việc này, kẻ quyết định là bà Nhuần. Hai con mắt bà Nhuần đang cháy lên những tia kiêu căng, phớn phở. Chao ôi! Cái ý hướng thăng tiến trong đời sống vật chất ở lớp người này, ông giáo hoàn toàn có thể thông cảm, nhưng sao ông vẫn thấy buồn thế!
Trái hẳn với ông giáo, ông thợ vẽ linh hoạt hẳn lên khi bữa rượu bắt đầu. Ông nhấc chén ầm ỹ. Ông thọc đũa vào đĩa mực tới tấp. Môi ông nhờn bóng. Ông nhai nhọp nhẹp đầy vẻ khoái lạc, tận hưởng. Thói tham lam, tính phàm ăn của ông bộc lộ ngay cả khi ông nói, ông vừa nói vừa gắp.
- Ông bà tính toán thế cũng phải. Tôi mà có con gái, tôi phải gả cháu vào nơi cửa cao nhà rộng, giàu có, sung sướng. Đời người được mấy gang tay, tội gì.
- Dạ, anh cháu nghe đâu cũng là đi bộ đội về đấy ạ - Bà Nhuần thêm.
- Không! Hạnh phúc là cái gì cụ thể, trực tiếp, hiện tại, ngay giờ phút này, tức khắc, chứ đừng viển vông.
Ông thợ vẽ vung đũa. Nghe chừng thấy bà vợ ông Nhuần không hiểu cái lý sự cao xa của mình, ông liền hạ giọng:
- Bà Nhuần ơi, nói thế này để bà hiểu nhé: “Thế kỷ hai mươi thế kỷ tiền. Quân tử không tiền, quân tử điên!”. Có đúng không nào!
Đón một đĩa lòng lợn cô Loan bưng lên tiếp, đặt xuống mâm, bà Nhuần nhìn ông hoạ sĩ, cười ỏn ẻn:
- Nó cũng là cái duyên cái số, hai bác ạ. Đấy, cứ như em với ông Nhuần nhà này, gặp nhau ở thành phố, phải lòng nhau rồi em dắt ông ấy về quê cho các cụ xem mặt. Ôi giời, các cụ nhà em cứ đay đả: “ Con Lụa kia, cái thằng lù đù như chuột phải khói nó bỏ bùa mê thuốc lú cho mày hay sao thế, con?”. Khi khí... ấy thế. Gần thì chẳng bén duyên cho... Ông Nhuần! Ơ kìa, khỉ gió cái nhà ông này. Giót rượu mời các bác ấy đi chứ! Ngủ đấy à!
Lúc ấy, Trọng dắt cái xe đạp vênh vành đi vào ngõ. Trọng về vội vì có tin: Căn bệnh của Nam đang ở vào tình trạng hiểm nghèo. Từ trong nhà ông bà Nhuần, người nhìn thấy Trọng đầu tiên là ông Hảo. Ông thợ vẽ đập tay ông Cần, ghé tai ông giáo, nói bằng tiếng Pháp, với một vẻ vui đùa rất vô tình và không đúng chỗ:
- Thật là trái hẳn với huyền thoại! Thuỷ Tinh đã rước mất Mị Nương! Anh chàng Sơn Tinh tội nghiệp của chúng ta chậm chân rồi, anh Cần ạ.
Mặt ông giáo bỗng tối sầm.
|